Nguyên nhân, triệu chứng và dấu hiệu cảnh báo bệnh trào ngược dạ dày

Nguyên nhân, triệu chứng và dấu hiệu cảnh báo bệnh trào ngược dạ dày

Tùy theo nguyên nhân bị trào ngược dạ dày, có hay không vi khuẩn HP sẽ dùng kháng sinh hoặc không. Người bệnh cần bắt buộc làm xét nghiệm HP. Khi đã xác định có sự tồn tại của vi khuẩn HP là nguyên nhân gây viêm loét DD-TT cần sử dụng kháng sinh đường uống, không dùng kháng sinh đường tiêm. Nguyên tắc điều trị là phải phối hợp thuốc giảm tiết acid với ít nhất hai loại kháng sinh.

Dấu hiệu trào ngược dạ dày ở người bệnh

Dấu hiệu trào ngược dạ dày ở người bệnh

Không dùng một loại kháng sinh đơn thuần. Thuốc chống tăng tiết dịch vị có hai loại chính, thuốc ức chế bơm proton và thuốc kháng thụ thể histamine H2. ATPase). Mỗi chất gắn vào một vị trí khác nhau của “bơm”, tạo nên sự khác nhau về cường độ tác dụng điều trị loet da day. Loại thuốc bơm proton nào cũng có tác dụng chống tiết mạnh và kéo dài, các thế hệ về sau càng có tác dụng mạnh hơn và kéo dài hơn.

Cách dùng thuốc để tránh những biến chứng nguy hiểm

Do các thuốc được tích lũy trong tế bào viền nên thời gian bán thải thực tế tới 48 giờ, vì vậy, tác dụng xuất hiện từ từ và kéo dài do đó chỉ cần dùng thuốc một lần/ngày. Loại chống tiết dịch vị thứ hai là kháng thụ thể histamin – H2 như cimetidin, ranitidin, famotidin. Loại thuốc kháng acid (kháng toan) gồm các muối nhôm (hydroxyd, phosphat, carbonat), các muối magnesium (hydroxyd, trisilicat, carbonat), calci carbonat, natricarbonat. Natribicarbonat nay không dùng nữa bởi gây hại dạ dày, tăng tiết gastrin làm cho acid dịch vị (HCl) tiết nhiều hơn trước. Vì vậy, những loại thuốc kháng acid được chỉ định dùng để giảm đau và khó chịu trong các rối loạn về hệ tiêu hóa. Trong những trường hợp ợ nóng, nếu sử dụng những loại thuốc kháng acid thì có thể tạm thời cải thiện được cảm giác nóng rát. Loại thuốc bao phủ niêm mạc DD-TT thông dụng nhất là gastropulgit.

Sử dụng thuốc cần hết sức chú ý

Sử dụng thuốc cần hết sức chú ý

Đó là những dau hieu dau da day cảnh báo có khả năng có bệnh lý nghiêm trọng như là ưng thư thực quản, ưng thư dạ dày. Metoclopramid: Tác dụng trung ương vào vùng lẩy cò, có tác dụng lên các lớp cơ ống tiêu hoá. Nó làm gia tăng vận động, thúc đẩy mở môn vị, dẫn đến làm vơi dạ dày từ đó làm giảm trào ngược dạ dày – thực quản. Tác dụng phụ: gây buồn ngủ và tăng trương lực ngoại tháp. Domperidon: Đây là thuốc kháng dopaminergic ngoại biên, nó cố định vào thụ thể D2 ngoại biên và không qua hàng rào máu não. Có tác dụng làm tăng áp lực cơ vòng đoạn dưới thực quản do đó làm tăng sự vơi dạ dày dẫn đến làm giảm trào ngược. Thuốc chống chỉ định với chảy máu dạ dày ruột, tắc ruột, nguy cơ thủng ở ống tiêu hoá. Metopimazin: Đây là thuốc chống nôn kháng tiết dopamin có tác dụng chọn lọc trên khu vực lẩy cò hoá học của não thất IV. Thuốc có tác dụng làm thay đổi vận động ống tiêu hoá nhưng không làm tăng sự vơi dạ dày do đó nó không làm cản trở sự hấp thu tiêu hoá cao của các thuốc phối hợp.

Giải pháp điều trị an toàn bệnh nhân có thể áp dụng

Điều trị theo triệu chứng sẽ được thực hiện mỗi ngày nếu như việc điều trị cácg khoảng tỏ ra không hiệu quả. Vì thuốc ức chế bơm proton tốt hơn thuốc ức chế thụ thể H2 nên nó được dùng khi thuốc ức chế thụ thể H2 thất bại. Việc tăng liều thuốc ức chế H2 không hiệu quả rõ ràng . Thường kém hiệu quả hơn thuốc ức chế bơm proton. Những bệnh nhân cần điều trị thuốc ức chế bơm proton hàng ngày cũng cần nội soi để kiểm soát nguy cơ của bệnh trong khi điều trị liên tục. Tác dụng không đủ của thuốc ức chế bơm proton trên pH dạ dày. Chẩn đoán lầm hay có biến chứng nặng của viêm thực quản. Tăng liều điều trị gấp đôi có thể có hiệu quả, nhưng bệnh nhân cần tư vấn ở bác sĩ chuyên khoa. Phẫu thuật trào ngược bao gồm một số kiểu khâu xếp nếp kèm hay không kèm việc sửa chữa thoát vị khe.

Phẫu thuật có thể thực hiện theo kỹ thuật mổ hở hay qua nội soi. Không đáp ứng với điều trị nội khoa dù đã uống đủ liều. Thuốc có tác dụng phụ hoặc bệnh nhân không hợp tác. Mong muốn khỏi phải uống thuốc dài hạn. Kỹ thuật khâu phình vị qua mổ nội soi đã được ứng dụng , có ưu điểm là giảm đau hậu phẫu, thời gian nằm viện ngắn và trở lại làm việc nhanh hơn mổ hở. Tỉ lệ tử vong là 0,2% và tỉ lệ thương tật thấp hơn mổ hở. Kết quả mổ phụ thuộc vào tay nghề của phẫu thuật viên , kể cả việc kiểm soát triệu chứng và tỉ lệ di chứng sau mổ. Các di chứng có thể có sau mổ như ăn không tiêu tăng lên , nuốt khó với thức ăn đặc như thịt và bánh mì và ăn mau no. Bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật cần được xác định chẩn đoán viêm thực quản bằng nội soi vào thời điểm nào đó trong suốt quá trình bệnh hay bằng cách theo dõi độ pH trong 24 giờ.

Add a Comment