chữa béo phì bằng y học cổ truyền(phần 2)

Phần 1 của chuyên mục “chữa béo phì bằng y học cổ truyền”, chúng tôi đã cùng bạn đọc hiểu rõ về đại cương cũng như nguyên nhân gây nên bệnh béo phì. Phần 2 hôm nay sẽ giới thiệu tiếp đến bạn đọc cách đánh giá bệnh béo phì để tìm ra phương pháp điều trị theo từng thể.

(Tiếp theo phần 1)

Chẩn đoán

Để có được sự chẩn đoán chính xác bệnh béo phì, cần chú ý mức độ béo phì và nguyên nhân, biến chứng.

Đánh giá mức độ béo phì: Chúng ta có thể dùng một trong hai cách sau

* Theo cân nặng tiêu chuẩn (CNTC): Được tính theo công thức

CNTC (Kg) = Chiều cao (cm) – 100 x 0,9.

Một người có cân nặng so với CNTC vượt từ 10 – 19,9% gọi là quá trọng lượng (Mập), vượt từ 20% trở lên là béo phì.

Hoặc: Trọng lượng cơ thể hiện tại – trọng lượng cơ thể tiêu chuẩn x 100 Trọng lượng cơ thể tiêu chuẩn.

Trọng lượng cơ thể của trẻ nhỏ (kg) = tuổi x 2 + 8

*Theo tỉ lệ % của mỡ

Tỉ lệ % của mỡ (ký hiệu là F) như sau:

F= (4,570/mật độ cơ thể – 4,142) x 100

Nam giới F= 15%, vượt quá 25% là béo phì.

Nữ giới F= 22%, vượt quá 30% là béo phì.

Theo cách tính này béo phì thường chia ra 4 độ

Béo phì độ I: Cân nặng tăng từ 20-30% CNTC.

Béo phì độ II: Cân nặng tăng từ 31-40% CNTC.

Béo phì độ III(bệnh nặng): Cân nặng tăng từ 41-50% CNTC.

Béo phì độ IV(bệnh nặng): Cân nặng trên 50% CNTC

*Theo chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index) viết tắt là BMI tính theo công thức

Trong đó W khối lượng cơ thể người tính bằng (Kg)

H là chiều cao cơ thể người tính bằng (m).

BMI < 18: người gầy

BMI = 18 – 24,9: người bình thường

BMI = 25 – 29,9: người béo phì độ I

BMI = 30 – 34,9: người béo phì độ II

BMI > 35: người béo phì độ III

Điều trị

Theo Đông Y có thể chia bệnh béo phì ra 5 thể

Thể tỳ hư thấp trở: Triệu chứng béo phì, phù, mệt mỏi, uể oải, thân thể nặng, tay chân nặng, tiểu ít, bụng đầy, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch trầm, nhu.

Thể vị nhiệt thấp trở: Triệu chứng béo phì, đầu nặng, choáng váng, thân thể mỏi mệt, khát, thích uống, rêu lưỡi hơi vàng nhờn, mạch nhu

Thể can khí uất trệ: Triệu chứng béo phì, ngực đầy, hông sườn trướng tức, kinh nguyệt không đều hoặc bế kinh, mất ngủ, hay mơ, lưỡi sẫm, mạch nhu.

Thể tỳ thận lưỡng hư: Triệu chứng béo phì, uể oải, đầu váng, lưng đau, gối mỏi, liệt dương, rêu lưỡi mỏng, mạch trầm nhược.

Thể thận dương suy: Triệu chứng béo phì, đầu váng, lưng đau, chân mỏi, ngũ tâm phiền nhiệt, rêu lưỡi mỏng, đầu lưỡi đỏ, mạch nhu.

Khi điều trị cần chú ý theo dõi một số điểm sau để dễ đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị

Ba tháng là một liệu trình, hết một liệu trình nếu trong lượng cơ thể giảm được 3kg là có hiệu quả.

– Sau một liệu trình, nếu trọng lượng cơ thể giảm từ 5kg trở lên là có hiệu quả rõ.

– Sau một liệu trình, trọng lượng cơ thể đạt đến trong lượng cơ thể tiêu chuẩn, được xem là khỏi bệnh.

-Trong thời gian uống thuốc, cứ cách một tháng nên ngưng uống thuốc 3-5 ngày rồi lại tiếp tục.

Dựa vào kinh nghiệm lâm sàng, các nhà điều trị học Y Học Cổ Truyền nêu ra 8 nguyên tắc điều trị sau:

Hóa thấp – Khứ đờm – Lợi thủy – Thông phù – Tiêu đạo – Thư can, Lợi đởm – Kiện tỳ bổ thận – Ôn dương. (Còn tiếp)

Add a Comment